Hiển thị các bài đăng có nhãn học tiếng nhật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn học tiếng nhật. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

23 từ lóng của giới trẻ Nhật Bản

Giới trẻ ở đâu cũng có những từ ngữ 'riêng' thể hiện tính cách của mình. Và giới trẻ Nhật Bản cũng dùng từ lóng để thể hiện cá tính đó. Tìm hiểu thôi nào!


>>Địa chỉ trung tâm dạy tiếng Nhật uy tín tại Hà Nội

>>Học tiếng Nhật qua bài hát


あばよ - Abayo : Một cách nói thông thường của “ Chào tạm biệt” , cách nói này không được lịch sự cho lắm.
あぶね - Abune : Từ lóng, đây là một thán từ nhẹ hơn nghĩa của "abunai". Nó được sử dụng như nghĩa, "Thế là rất gần!!!"
あちいって - Achi itte : Đây là một cách nói không lịch sự mang nghĩa “ Đi ra chỗ khác!" như vậy thì tốt nhất là bạn nên tránh xa.
あちかえれ - Achi kaere: "Quay trở lại đó, tránh xa ra " – một cách thể hiện trực tiếp của "Đi chỗ khác!".
あの - Ano : "uhm" or "xin thứ lỗi! " hoặc đơn giản là "ở đằng kia"
あほ - Aho : Một thán từ bât lịch sự mang nghĩa "ngu dốt", được sử dụng nhiều ở vùng Kansai (Osaka)
あほんだら - Ahondara : Từ lóng, một lời lăng mạ, sỉ nhục, gần giống "aho" nhưng mang nghĩa nặng hơn.
あそう - Ah sou : Cách nói thông thường của "Oh, Tôi hiểu...", nhưng tốt hơn là tránh sử dụng cụm từ này như là một" người ngoại quốc" vì nó có thể gây khó chịu cho một số người Nhật Bản.
あいつ - Aitsu : "Hắn ta ở đằng kia" or "gã ta đang ở đó".
あくまびと - Akumabito :” yêu ma “ “ quỷ quái”. A không phát âm rõ ràng, “akuma” nghĩa là ma quỷ, “hito” ám chỉ con người , H sẽ phát âm thành B khi đứng sau một nguyên âm.
あまい - Amai : thán từ mang nghĩa “ cả tin” hay mang nghĩa ai đó thật “ dại khờ”
あの - Ano: nó có thể mang nghĩa “ hắn ta ở đó” nhưng ý thường là “Uhmm..” hoặc “ à..” được dụng thường xuyên trong giao tiếp hằng ngày, trong các bài phát biểu… để làm chậm cuộc hội thoại, dành thời gian suy nghĩ.

từ lóng tiếng Nhật



べつに - Betsu ni : Thán từ nghĩa là “ không có gì “ “thật sự không có gì” thường được dùng để trả lời một câu hỏi.
びしょうねん - Bishounen : “ Anh chàng cơ bắp” “ Chàng trai dễ thương”
ぼんくら - Bonkura : Từ lóng, mang nghĩa sỉ nhục đề cập đến trí thông minh của bạn, nghĩa là :”ngu si” “tối dạ”
じゅんびはいいか? - Junbi wa ii ka?- “sẵn sàng chưa ?”
かい - Kai ?: Ngôn ngữ giao tiếp mang nghĩa “desu ka” ví dụ Nan kai =Nan desu ka?
きもい - Kimoi : viết tắt của “Kimochi warui”
きさま - Kisama : Nghĩa rất bất lịch sự, thô tục của “anata” và sẽ giúp bạn có một cuộc đánh nhau nếu bạn dùng nó ở Nhật.
むずい - Muzui: cách nói ngắn gọn của “muzukashii”
なめるじゃない - Nameru ja nai : thường được nói với giọng điệu mạnh mẽ “ Đừng can thiệp vào chuyện của tôi !” “ Đừng đánh giá thấp tôi!”
なんちゃって - Nanchatte : một từ lóng phổ biến của giới trẻ, được sử dụng như nghĩa là “..chỉ đùa thôi!”
なんだけ - Nandake: sử dụng khi ai đó đề cập đến một ván đề mà bạn có thể đã biết nhưng quên mất.

Đây là 23 từ lóng giới trẻ Nhật rất hay sử dụng! Chúc các bạn có thể học tiếng Nhật thật tốt cùng Akira

 

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Từng bước học tiếng Nhật

Học một ngoại ngữ bao giờ cũng là vô biên, bạn không thể biết hết tất cả mọi thứ về một ngôn ngữ nào đó. Điều quan trọng là hãy năm thật chắc, từng bước từng bước một.

Điều quan trọng là nền tảng tiếng Nhật
Nền tảng tiếng Nhật là sự hiểu biết của bạn về tiếng Nhật, bao gồm nhưng không giới hạn ở việc hiểu ngữ pháp, biết nhiều từ vựng, đọc được nhiều chữ kanji, phân tích được câu tiếng Nhật, v.v... chứ không phải khả năng hội thoại, nghe nói tiếng Nhật của bạn. Bạn phải đọc hiểu được tiếng Nhật đã.
Khi bạn có nền tảng tiếng Nhật tốt và có cơ hội tiếp xúc tiếng Nhật thì khả năng hội thoại, nghe nói sẽ lên rất nhanh. Bạn đã thấy ai đi du học Nhật cũng có thể nghe nói được tiếng Nhật chưa? Là vì họ có nền tảng tiếng Nhật (đã học qua trường lớp) và ở Nhật đủ lâu, chứ không hẳn là vì họ nỗ lực hay chăm chỉ.
Tuy vậy, không phải ai nói giỏi (giao tiếp giỏi) tiếng Nhật cũng có nền tảng tiếng Nhật tốt. Ở Nhật lâu và được học tiếng Nhật thì nhìn chung sẽ nói được tiếng Nhật, nhưng để diễn đạt sâu sắc hay chém gió tiếng Nhật thì lại là câu chuyện khác, đòi hỏi bạn phải nâng cao nền tảng tiếng Nhật của mình lên. Nhiều người nói và giao tiếp tiếng Nhật khá tốt nhưng động vào đọc hiểu hay viết lách diễn đạt là tắc ngay.

Để nâng cao nền tảng tiếng Nhật: Bạn phải đọc nhiều và phân tích câu nhiều.
Học đại học tại Nhật là cơ hội tuyệt vời để nâng cao tiếng Nhật vì bạn bắt buộc phải viết báo cáo hay viết luận văn. Đó là những cơ hội tuyệt vời để bạn có thêm khả năng viết lách, vốn là một mức độ cao hơn so với đọc hiểu.

Đừng hi vọng có ai (kể cả người Nhật) dạy tiếng Nhật cho bạn
Chúng ta thường nghe than phiền là "Tại tôi không có bạn người Nhật" nhưng nếu có bạn người Nhật thì bạn sẽ làm gì? Nhờ người đó dạy tiếng Nhật cho bạn chăng? Họ sẽ dạy cho bạn 1 buổi và chạy mất dép vì không thể chịu nổi thứ tiếng Nhật bập bẹ của bạn. Vẫn là câu nói cũ: Đừng hành hạ người khác bằng tiếng Nhật sơ cấp của mình.
Nếu bạn vẫn còn hi vọng có bạn người Nhật chỉ tiếng Nhật thì bạn nên tìm người dạy tiếng Việt, đảm bảo 2 buổi sau là bạn chán tận cổ thôi.

Tìm người bản ngữ và hi vọng họ dạy tiếng cho mình không bao giờ là cách hay.
Chúng ta chỉ có thể học lâu dài theo các cách sau:

·                     Học trên lớp
·                     Học trên trang web, video clip, phim, anime, v.v...
·                     Tự học
·                     Đi chơi với nhóm người Nhật và nghe họ nói chuyện với nhau
Tức là bạn học bằng cách NGHE, không phải bằng cách NÓI. Nói là một việc khổ sở và không hiệu quả, bạn phải nghe cho quen trước khi nói. Vì thế mà học tiếng Nhật tại Nhật hiệu quả hơn học tại Việt Nam vì cơ hội nghe nhiều hơn hẳn.


Không cần thiết phải so sánh với người khác

Từng bước học tiếng Nhật
Họ đẹp, họ có nhiều bạn, họ nói tiếng Nhật như gió, tương lai tươi sáng đang chờ trước mặt họ, v.v... Bạn đã bao giờ thấy người nào như thế chưa? Những người đó có ở khắp nơi quanh ta. Nhưng bạn sẽ ngạc nhiên nếu biết rằng có thể khả năng tiếng Nhật của họ không bằng bạn, thậm chí là kém khá xa. Thước đo tốt nhất chính là điểm số mà bạn đạt được khi thi N1: Nó không đòi hỏi khả năng giao tiếp mà chính là mức độ hiểu tiếng Nhật (nền tảng tiếng Nhật) của bạn.
Đọc và viết tiếng Nhật quan trọng hơn là nói chuyện như gió. Vì thế chẳng cần phải so sánh với người khác mà chỉ cần kiên trì nâng cao nền tảng tiếng Nhật là ổn. Khi nào bạn có cơ hội sang Nhật hay làm việc trong môi trường nhiều người Nhật thì tự nhiên khả năng giao tiếp tiếng Nhật của bạn sẽ nâng cao dần theo thời gian.


Học xong trường Nhật ngữ xong có nghe được bài giảng ở đại học không?
Thường có thể chỉ tầm 20 - 60% tùy giáo viên nói dễ nghe hay khó nghe, tất nhiên là khi bạn quen thì có thể tỷ lệ cao hơn. Nhưng nhìn chung nếu bạn đọc được sách và đọc được đề thi là ổn. Chẳng có gì phải buồn phiền nếu bạn không nghe được bài giảng, vì bạn cần thời gian để khả năng nghe tăng dần lên. Đây là vấn đề về thời gian. Có thể bạn cần vài năm ở Nhật để tiếng Nhật có thể ổn thỏa.


Tiếng Nhật của bạn sẽ biến đổi lên xuống thế nào?
Ngay cả khi bạn ở Nhật, thì tiếng Nhật của bạn cũng thường lên xuống, theo nghĩa là khả năng hội thoại, nghe và nói tiếng Nhật của bạn lên xuống tùy thời kỳ. Lúc bạn giao tiếp nhiều thì bạn nói khá, sau đó không giao tiếp thì nó lại xẹp xuống. Hay bạn về Việt Nam nghỉ hè rồi quay lại Nhật và quên sạch tiếng Nhật. Những chuyện đó là thường. Khả năng hội thoại, giao tiếp là thứ co dãn theo hoàn cảnh. Có điều là nền tảng kiến thức tiếng Nhật thì thường ít biến đổi và thường tăng lên nếu bạn vẫn chịu học hỏi thêm. Đôi lúc, bạn có thể thấy chán vì học mãi mà giao tiếp vẫn không khá. Nhưng thực tế là kiến thức tiếng Nhật của bạn vẫn đang khá lên và chỉ cần "mồi" một chút là giao tiếp của bạn sẽ khá lên ngay. Nên chẳng có gì phải buồn phiền!


Mất bao nhiêu năm để nói tiếng Nhật như người Nhật?
Có nhiều người hù dọa bạn là sẽ mất 5 - 10 năm mới giỏi tiếng Nhật, nhưng theo mình thì bạn chỉ cần học đủ 900 giờ là đủ. Lúc đó trình độ bạn tương đương N1, có thể giao tiếp khá thoải mái. Còn bạn muốn diễn đạt các vấn đề phức tạp thì chịu khó học thêm từ vựng là ổn. Ngoài ra, bạn nên luyện thi N1 vì có nhiều mẫu ngữ pháp mang tính văn vẻ giúp bạn diễn đạt tiếng Nhật hay hơn.


Nếu tập trung, bạn chỉ cần học 1 năm!

Bạn học hết N1 thì coi như bạn học xong nền tảng tiếng Nhật rồi, những năm tháng sau này là bạn chỉ học cách diễn đạt mà người Nhật thường dùng và nâng cao khả năng nghe hiểu, giao tiếp mà thôi. Còn có nền tảng tiếng Nhật nghĩa là bạn có thể đọc hiểu rồi. Khi đó, đi siêu thị và vào ngân hàng chỉ là chuyện nhỏ. Còn gì quan trọng hơn là đi siêu thị mua đồ và vào ngân hàng làm thủ tục giao dịch?

Không phải ai ở Nhật lâu cũng đậu N1
Bạn có thể nghĩ là những người đi du học ở Nhật nhiều năm sẽ dễ dàng đậu N1 nhưng thực ra không phải vậy. Họ thường trượt N1! Vì chẳng ôn luyện gì cả. Nghĩa là nền tảng tiếng Nhật của họ cũng chưa thực sự tốt (dù giao tiếp có thể tốt) vì phần lớn ngữ pháp của N1 đều khá hay và thường được dùng trong văn viết cũng như văn nói ở Nhật.
Nghĩa là, số năm bạn ở Nhật không quyết định trình độ tiếng Nhật của bạn, mà trình độ tiếng Nhật phụ thuộc việc bạn có tiếp tục nâng cao nó lên hay không.
Cũng như nếu bạn chăm chỉ luyện thi N1 thì chắc chắn bạn sẽ đậu N1 và hiểu khá sâu về tiếng Nhật mặc dù có thể bạn không sống tại Nhật.
Tuy nhiên, để diễn đạt và nói chuyện như người Nhật thì có lẽ bạn nên sống ở Nhật một thời gian bởi vì sách giáo khoa không thể phản ánh toàn bộ đời sống được.

Tiến theo từng bước
Bạn phải đi lên từ từ từng bước để hoàn thành đủ số giờ học của mình. Đầu tiên bạn phải học được cách tra từ điển. Sau đó là phân tích câu đơn giản. Cứ thế mà đi lên thôi. Bạn nên luyện thi theo các cấp độ.
Khi bạn đậu được N1 thì trò chơi sẽ lên level mới hoàn toàn. Khi đó về cơ bản là nền tảng bạn có đã vững chắc, bạn chỉ cần xây đắp thêm chỗ này chỗ kia cho hoành tráng hơn.
Mức độ cao nhất là bạn có thể viết được tiếng Nhật. Bạn có thể không cần nhắm tới mức độ này, nhưng nếu đạt được nó thì bạn sẽ có khá nhiều lợi thế. Khi đó nếu làm công việc liên quan đến tiếng Nhật bạn sẽ tốn ít sức hơn người khác rất nhiều, nghĩa là khả năng cạnh tranh của bạn sẽ cao hơn rất nhiều. Mức độ cao nhất là sử dụng ngôn ngữ tự do như ngôn ngữ mẹ đẻ, lúc đó bạn sẽ không phải nghĩ nữa và không tốn nhiều năng lượng nữa.


Đôi điều nhắn nhủ
Đừng học tiếng Nhật một cách quá gian khó, nếu không bạn sẽ kiệt sức trước khi đạt được cột mốc nào đó. Nếu bạn nói không thực sự giỏi thì hãy CHỈ NGHE thật nhiều. Đừng cố kiếm bạn Nhật làm gì mà thay vào đó xem phim hay anime Nhật. Hãy nâng cao số giờ học tiếng Nhật của mình, đặc biệt là tự học tiếng Nhật. Bạn có thể luyện thi các cấp độ từ thấp lên cao hay học các chương trình sơ cấp online (JPLANG và NHK) để thấy rằng mình đang đạt được các cột mốc mới. Ngay cả số giờ bạn học tiếng Nhật cũng là một loại cột mốc mà bạn nên ghi chép lại. Không có con đường tắt dẫn tới thành công, bạn chỉ có thể tiến từng bước một hàng ngày mà thôi!




Số giờ học tiếng Nhật của bạn là bao nhiêu?


Cần bao nhiêu thời gian để đạt được một trình độ nhất định
Đây là đề tài khá thú vị và có rất nhiều bạn hỏi mình. Bạn thường biện luận và bào chữa là "vì mình học tự nhiên nên không giỏi về ngôn ngữ" (?!).Nhưng khả năng ngôn ngữ là thứ chúng ta phải thường xuyên học thông qua đọc, viết, nghe, nói. Không ai có bộ não xuất chúng hơn người khác theo kiểu học 2 tháng là giỏi tiếng Nhật cả. Thường mọi người học nhanh hay chậm là do họ chăm chỉ và có học đúng phương pháp không mà thôi.
Điểm mấu chốt chính là: Số giờ mà bạn học tiếng Nhật
bảng chữ cái tiếng nhật

Tức là số giờ mà bạn lên lớp ngồi học và thực sự động não trong việc học, hay là số giờ mà bạn tự học (kể cả tra từ điển và đọc câu mẫu). Tự học thì đương nhiên là sẽ phải động não rồi. Còn nếu bạn đến lớp học mà chỉ ngủ hay đánh bài thì chắc chắn là không thể tính được. Nhiều bạn học tiếng Nhật rất dài lâu nhưng chẳng bao giờ thực sự học, hay vào những lớp quá chán nản và không có bài tập phù hợp rồi lại tự hỏi "Vì sao học mãi mà không giỏi tiếng Nhật?".


Bạn có thể học tiếng Nhật trong 8 tháng nhưng 1 tuần bạn học 2 buổi, 1 buổi bạn học 90 phút thì số giờ bạn học mới chỉ là 8 x 4 x 2 x 1.5 = 96 giờ. Đấy là nếu bạn đi học đầy đủ và không bùng tiết nào.

CỤ THỂ VỀ SỐ GIỜ HỌC TIẾNG NHẬT VÀ TRÌNH ĐỘ


N1
Có thể hiểu tiếng Nhật trong các tình huống đa dạng
Đọc
* Có thể đọc bình luận báo chí viết về các đề tài đa dạng, đọc văn viết hơi phức tạp về mặt lý luận, văn viết có độ trừu tượng cao và hiểu cấu trúc cũng như nội dung bài văn.
* Có thể đọc các bài có nội dung sâu về nhiều chủ đề, hiểu dòng chảy câu
chuyện và ý đồ diễn đạt.
Nghe
* Có thể hiểu chi tiết dòng chảy câu chuyện, nội dung câu chuyện quan hệ giữa các nhân vật và cấu trúc lý luận của nội dung khi nghe các bài nói như hội thoại, tin tức, bài giảng ở các tình huống đa dạng.
N2
Hiểu tiếng Nhật trong các tình huống hàng ngày, thêm vào đó có thể hiểu ở mức nào đó tiếng Nhật trong các tính huống đa dạng.
Đọc
* Có thể đọc đoạn văn có chủ đề rõ ràng, hiểu nội dung như các bài báo, bài tạp chí, bài giải nghĩa, bình luận đơn giản... về các chủ đề đa dạng.
* Có thể đọc các bài viết về các chủ đề chung, hiểu dòng chảy câu chuyện và ý đồ diễn đạt.
Nghe
* Có thể nghe các tình huống thường ngày và các bài nói tự nhiên trong các tình huống đa dạng như hội thoại, tin tức, hiểu dòng chảy câu chuyện, nội dung, quan hệ giứa các nhân vật, nắm được ý chính.
N3
Có thể hiểu ở mức nhất định tiếng Nhật dùng trong các tình huống hàng ngày.
Đọc
* Có thể đọc hiểu văn chương diễn đạt nội dung cụ thể về các vấn đề hàng ngày.
* Có thể nắm bắt khái quát thông tin từ tiêu đề báo chí
* Có thể hiểu văn chương hơi khó trong phạm vi nhìn thấy trong các tình
huống hàng ngày nếu được nói diễn đạt lại theo cách khác
Nghe
* Có thể hiểu nội dung cụ thể của câu chuyện cũng như quan hệ các nhân vật khi nghe hội thoại có chủ đề trong nói chuyện tự nhiên hàng ngày.
N4
Có thể hiểu tiếng Nhật căn bản
Đọc
* Có thể đọc hiểu văn chương hay dùng hàng ngày viết bằng những từ vựng và chữ kanji cơ bản.
Nghe
* Có thể hiểu nội dung hội thoại trong tình huống hàng ngày nếu nói chậm.
N5
Có thể hiểu ở mức nào đó tiếng Nhật căn bản.
Đọc
* Có thể đọc hiểu cụm từ, câu, đoạn văn dạng cố định viết bằng chữ hiragana, chữ katakana, chữ hán cơ bản dùng trong sinh oạt hàng ngày.
Nghe
* Có thể nghe được thông tin cần thiết trong hội thoại ngắn, nói chậm trong các tình huống hay gặp hàng ngày như lớp học, cuộc sống xung quanh.

Trước đây, kỳ thi khả năng tiếng Nhật (JLPT) được chỉ được chia thành 4 cấp độ chứ không phải 5 cấp độ (N5~N1) như hiện nay: Cấp độ 1 (1-kyuu), cấp độ 2 (2-kyuu), cấp độ 3 (3-kyuu), cấp độ 4 (4-kyuu). Mối quan hệ giữa các cấp độ mới (N=New, Nihongo) và các cấp độ cũ như sau:

N1: Giống cấp độ 1-kyuu cũ nhưng cao hơn một chút. Điểm đậu hầu như giống nhau.
N2: Hầu như giống cấp độ 2-kyuu cũ.
N3: Là cấp độ trung gian giữa 2-kyu và 3-kyuu cũ. (CẤP ĐỘ MỚI ĐƯỢC MỞ THÊM)
N4: Hầu như giống cấp độ 3-kyuu cũ.
N5: Hầu như giống cấp độ 4-kyuu cũ.
Nếu bạn nào đã có 1-kyuu hay 2-kyuu thì bạn cũng sẽ đang có trình độ N1 hoặc N2. Còn nếu bạn đang có 3-kyuu thì bạn có trình độ N4, nếu bạn có 4-kyuu thì bạn có trình độ N5.


Tổng kết nội dung kỳ thi JLPT mới Số liệu ước lượng từ tài liệu của JEES.
Cấp độ
Kanji
Từ vựng
Nghe
Số giờ học
N5
~100
~800
Beginner (Bắt đầu)
150 (ước lượng)
N4
~300
~1,500
Basic (Cơ bản)
300 (ước lượng)
N3
~650
~3,750
Lower Intermediate (Hạ cấp)
450 (ước lượng)
N2
~1000
~6,000
Intermediate (Trung cấp)
600 (ước lượng)
N1
~2000
~10,000
Advanced (Cao cấp)
900 (ước lượng)


Như vậy là bạn có thể nắm được SỐ GIỜ BẠN CẦN HỌC để đạt tới một trình độ nào đó. Tất nhiên là nếu bạn học sơ cấp giáo trình ABC rồi, sau đó bạn lại học lại sơ cấp giáo trình đó thì không thể tính được ^^ Bạn phải học lên cao hơn.
Số giờ cần để đi du học là: 150 giờ. Đây là số giờ để bạn đạt được trình độ Beginner (Bắt đầu), tức là tương đương N5. Bạn cần có chứng nhận đã học 150 giờ và/hoặc bằng N5 để có thể đăng ký đi du học. Nếu bạn có bằng cao đẳng, đại học thì có thể được miễn điều khoản này nhưng NÊN HỌC ít nhất 150 giờ để hồ sơ dễ đậu hơn.


Bao lâu thì bạn sẽ giỏi tiếng Nhật?

Thông thường, để đạt tới trình độ N1 tức là có thể hiểu được nhiều tình huống tiếng Nhật (ở đây chưa nói tới giao tiếp nói chuyện) thì bạn phải học khoảng 900 giờ như ở bảng trên
Ví dụ, nếu bạn học khóa 1 năm tiếng Nhật dạng toàn thời gian  thì bạn sẽ học buổi sáng và chiều, từ 8 rưỡi tới 12 giờ và từ 1 rưỡi tới 5 giờ chiều, là tầm 7 tiếng/ngày.
Một tuần bạn học 7 x 5 = 20 tiếng. Một tháng bạn học khoảng 22 x 7 = 154 tiếng.
Một năm bạn chỉ học 8 tháng (vì 4 tháng là kỳ nghỉ) nên sẽ khoảng 154 x 8 = 1232 tiếng. Tuy nhiên, do còn phải học toán, lý, hóa, thời sự Nhật Bản, v.v... nên phải trừ hết các giờ này ra.
Số giờ học tiếng Nhật thực chất chắc là khoảng trên dưới 900 giờ học.

Nếu bạn đi du học tự túc: Thông thường bạn sẽ đi học một buổi ví dụ buổi sáng và buổi còn lại bạn làm thêm. Thế thì bạn sẽ học khoảng 4 tiếng/ngày.
Một năm bạn học 4 x 22 x 8 = 704 giờ/năm. Tất nhiên, số giờ thực chất chỉ tầm 500 giờ do bạn còn học các môn khác nữa. Do đó 2 năm bạn học tầm 1000 giờ tiếng Nhật. Nhiều bạn chỉ học tầm một năm rưỡi thì có thể học tầm 750 - 800 giờ tiếng Nhật.

Ở Việt Nam thì bạn sẽ mất nhiều thời gian học tiếng Nhật hơn nhiều do thời lượng học thường khá thấp, ví dụ bạn học 2 buổi/tuần trong 3 tháng: 2 x 1.5 x 7 x 3 = 63 giờ. Bạn phải học cỡ 10 lần như vậy mới đạt tới 600 giờ học tiếng Nhật. Đấy là không kể bạn cứ học xong rồi lại bỏ dở và khi quay lại thì lại học đúng cái cũ (để làm gì?!).

Kết luận: Hãy tính số giờ học tiếng Nhật (không tính việc cứ học đi học lại một nội dung) và đó là trình độ tương đối của bạn. Đó cũng là con số cụ thể nhất cho biết trình độ hiện tại của bạn. Chúc các bạn học tốt! 
Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Những "chuyện lạ" đáng học tập từ nước Nhật

Học tiếng Nhật  không chỉ học về ngôn ngữ, mà bạn còn có thể học được những tinh hoa của văn hóa Nhật Bản. 
Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.
Cúi nhưng không thấp
Người Nhật có thói quen gập hơn nửa người cúi chào khách. Từ ông chủ tịch, tổng giám đốc của tập đoàn thực phẩm lớn như Acecook (Oaska) cho đến cô bé bán kem ở Lake Hill Farm (Jozankei) đều nhiệt thành ra tận xe, vẫy chào tạm biệt khách cho đến xe đi khuất hẳn.
Ở đất nước mặt trời mọc, hình ảnh nghiêng gập người cúi chào thể hiện cả một nền văn hóa Nhật Bản: Cúi nhưng không thấp. Sự nhún nhường chỉ làm tăng thêm sự nể trọng của người đối diện.
Trên các chuyến bay của hãng hàng không Japan Airlines, nụ cười luôn nở trên môi các tiếp viên. Suốt 6 tiếng trong chuyến bay từ Tokyo về Việt Nam không khi nào tiếp viên ngơi tay. Họ sẵn sàng ngồi, chính xác là "quỳ xuống", giúp khách sửa tư thế của đôi chân tê mỏi.
Họ niềm nở, vui vẻ tiếp nhận yêu cầu của mọi hành khách khó tính nhất. Không phải chất lượng máy bay khiến hành khách hài lòng mà chính cách phục vụ của tiếp viên khiến mọi người vô cùng ấn tượng. Chỉ vài phút khởi hành trễ, toàn bộ nhân viên phục vụ mặt đất và tiếp viên, phi công dàn thành hàng ngang, cúi rạp người xin lỗi khách.
Họ thật sự đã thành công khi để lại ấn tượng sâu sắc về một nước Nhật vô cùng hiếu khách và đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật giao tiếp.
Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.
Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những "mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản.
Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka... cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách. Quầy thanh toán cũng không đặt ngay cổng ra vào. Người Nhật tự hào khẳng định động từ "ăn cắp vặt" gần như đã biến mất trong từ điển.
Nếu bạn đến Nhật, toàn bộ các cửa hàng sẽ tự động trừ thuế, giảm 5 - 10% khi biết bạn là khách nước ngoài.
“No noise” - không ồn
Nguyên tắc không gây tiếng ồn được áp dụng triệt để tại Nhật. Tất cả đường cao tốc đều phải xây dựng hàng rào cách âm, để nhà dân không bị ảnh hưởng bởi xe lưu thông trên đường. Osaka bỏ ra 18 tỷ USD xây hẳn 1 hòn đảo nhân tạo để làm sân bay rộng hơn 500ha ngay trên biển. Lý do đơn giản chỉ vì “người dân không chịu nổi tiếng ồn khi máy bay lên xuống”.
Tại các cửa hàng mua sắm, dù đang vào mùa khuyến mãi, cũng không một cửa hàng nào được đặt máy phát ra tiếng. Tuyệt đối không được bật nhạc làm ồn sang cửa hàng bên cạnh. Muốn quảng cáo và thu hút thì cách duy nhất là thuê một nhân viên dùng loa tay, quảng cáo với từng khách.
Nhân bản
Vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc nguyên, không thu hoạch? Không ai bảo ai, những nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để phần 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.
Bình đẳng
Mọi đứa trẻ đều được dạy về sự bình đẳng.
Để không có tình trạng phân biệt giàu nghèo ngay từ nhỏ, mọi trẻ em đều được khuyến khích đi bộ đến trường. Nếu nhà xa thì xe đưa đón của trường là chọn lựa duy nhất. Các trường không chấp nhận cho phụ huynh đưa con đến lớp bằng xe hơi.
Việc mặc đồng phục vest đen từ người quét đường đến tất cả nhân viên, quan chức cho thấy một nước Nhật không khoảng cách. Những ngày tuyết phủ trắng nước Nhật, từ trên cao nhìn xuống, những công dân Nhật như những chấm đen nhỏ di chuyển nhanh trên đường. Tất cả họ là một nước Nhật chung ý chí, chung tinh thần lao động.
Văn hóa xếp hàng thấm đẫm vào nếp sinh hoạt hàng ngày của người Nhật. Không có bất cứ sự ưu tiên. Sẽ không có gì ngạc nhiên nếu một ngày bạn thấy người xếp hàng ngay sau lưng mình chính là Thủ tướng.
Ở Nhật, nội trợ là một nghề. Hàng tháng chính phủ tự trích lương của chồng đóng thuế cho vợ. Do đó, người phụ nữ ở nhà làm nội trợ nhưng vẫn được hưởng các chế độ y như một người đi làm. Về già, vẫn hưởng đầy đủ lương hưu.
Độc đáo hơn nữa là nhiều công ty áp dụng chính sách, lương của chồng sẽ vào thẳng tài khoản của vợ. Vai trò của người phụ nữ trong gia đình vì thế luôn được đề cao, tôn trọng.
Theo: http://reds.vn/index.php/tri-thuc/khoa-giao/3380-chuyen-la-dang-hoc-hoi-tu-dat-nuoc-nhat-ban

Học tiếng Nhật qua bài hát: Nagori yuki - Tuyết muộn

[ Memorable song #4 ] Nagori yuki - Tuyết muộn

Tuyết muộn, chính là những bông tuyết rơi vào một sớm mùa xuân ấm áp. Cái lạnh se se, cái màu trắng tinh khôi trong ánh nắng ấy đã khắc sâu vào trái tim một người con trai, người mà sắp phải chia tay cô bạn thân từ thuở thiếu thời. Những xúc cảm thầm kín, những suy nghĩ vẩn vơ của một mối tình chưa nói, tất cả đều được khắc họa trong bài hát này.
"Nagori-Yuki" là một bài hát do Ise Shouzo (伊勢正三) – một thành viên của band nhạc Kaguya-hime sáng tác và viết lời.

Khái quát
Năm 1974, Nagori-yuki được phát hành dưới danh nghĩa một ca khúc trong album Sandaitate no uta của Kaguya-hime. Đồng thời, vào tháng 8 năm ấy, Nagori-yuki được biểu diễn lần đầu tiên trong concert hợp tác giữa Kaguya-hime và Yoshida Takurou “ Intsuma Koi “.
Tuy bối cảnh trong bài hát là một nhà ga ở Tokyo, nhưng thực chất Ise đã lấy ý tưởng từ nhà ga Tsukumi ở thị trấn Tsukumi – huyện Ooita, cũng chính là quê hương ông.
Năm 2002,  dựa trên cảm nhận của mình về bài  hát, đạo diễn Nobuhiko Obayashi đã khởi quay bộ phim cùng tên.
Nagori-yuki đứng ở vị trí thứ 18 trong danh sách các bài hát yêu thích trong Kouhaku uta gassen lần thứ 56.

Bản cover của Iruka
Năm 1975, Nagori-yuki được phát hành với tư cách là một cover single của ca sĩ Iruka. Đĩa đơn này đã lập kỉ lục của Oricon tại thời điểm đó với lượng bán ra gần 550.000 bản, tổng doanh thu tính tới thời điểm này là khoảng 800.000 bản, trở thành một hit tạo nên tên tuổi của Iruka.

Self cover
Sau này, Ise Shouzo đã self cover bài hát của chính mình dưới dạng đĩa đơn và Nagori yuki phiên bản mới này đã được dùng làm soundtrack cho bộ phim cùng tên năm 2002.

Các bản cover khác
·         1976 Shimizu Yukiko ( hát trong cuộc thi “ Talent Tanjou “ lần thứ 16 của đài NTV )
·         1978 Beauty pair ( trong album “ Star my selection Series” )
·         1982 Matsuo Kumiko ( hát trong “ Talent Tanjou “ lần thứ 42 )
·         1990 Fukuyama Masaharu ( cover theo hình thức CM – quảng cáo )
·         1992 Mi-Ke 
·         1994 Miyuki Nagai 
·         1998 Suzuki Masami ( album “ Ichigo hakusho wo mou ichido” )
·         1999 LIFE RECODERS ( album “ Tokyo no sora “ )
·         1999 Yuuki Hiro 
·         2000 Yasuyuki Okamura ( album “ Yonakachuu no cycling “ )
·         2001 Nanao incense ( album “ Hajimari no uta “ )
·         2001 Ichii Sayaka (album " FOLK SONGS “ )
·         2003 Billiken 
·         2003 JINDOU 
·         2004 Matsuura Aya (album " FS5 – Sotsugyou” )
·         2004 Ketchup Mania ( album “ GAL ban “ “ The best of Ketchup Mania “ )
·         2005 Takahashi Naozumi ( album “ scene Nokoshita fuukyou “ )
·         2005 Ayaka Hirahara ( album “ From to “ )
·         2005 Hitomi Ishikawa ( album “ With Minna no Ichigo ichie FOLK SONGS “ )
·         2006 Tokunaga Hideaki (album " VOCALIST 2 “ )
·         2006 MUCC ( album “ COVER PARADE “ )
·         2006 Kamizono Sayaka ( album “ Hatachi no genten “ )
·         2006 Kamon Tatsuo 
·         2007 Kat McDowell ( trong mini album “ Kat “ )
·         2007 Ryu Si Won ( trong single “ Hana no kubikazari “ )
·         2007 Natsukawa Rimi ( trong album “ Uta sagashi _ Request cover album “ )
·         2008 Atari Kosuke ( single “ Haru “ )
·         2008 Ameji ( Album "LOVE STORIES")
·         2008 Onitsuka Chihiro ( trong live DVD "NINE DIRTS AND SNOW WHITE FLICKERS")
·         2009 Sakamoto Fuyumi ( Album “ LOVE SONGS _ Mata kimi ni koishiteiru_ )
·         2009 Scott Murphy ( Album  "GUILTY PLEASURES LOVE")
·         2009 Nakanishi Yasushi ( Album "Melodies")
·         2009 Nakamori Akina 
·         2010 Hajime Chitose & Motohiro Hata ( cover theo hình thức CM )
·         2012 Kawamura Ryuichi ( Album “ The Voice 2 “ )
·         2013 Ariyasu Momoka ( Momoiro Clover Z ) ft. Minami Kousetsu ( Album " 5TH DIMENSION )


Lyric 

kisha o matsu kimi no yoko de
boku wa tokei o kinishiteru
kisetsu hazure no yuki ga futteru
tokyo de miru yuki wa kore ga saigo ne to
samishisou ni kimi wa tsubuyaku
nagori yuki mo furu toki o shiri
fuzake sugita kisetsu no ato de
ima haru ga kite kimi wa kirei ni natta
kyonen yori zutto kirei ni natta

ugoki hajimeta kisha no mado ni
kao o tsuke te
kimi wa nanika o iou to shiteiru
kimi no kuchibiru ga sayonara to ugoku koto  ga
kowakute shita o muiteta
toki ga yukeba osanai kimi mo
otona ni naru to kizukanai mama
ima hru ga kite kimi wa kirei ni natta
kyonen yori zutto kirei ni natta

kimi ga satta home ni nokori
ochite wa tokeru yuki o miteita
ima haru ga kite kimi wa kirei ni natta
kyonen yori zutto kirei ni natta
Đứng bên cạnh bóng dáng nhỏ xinh đang chờ tàu đến của em
Là tôi, thẫn thờ nhìn kim đồng hồ trôi
Những bông tuyết trái mùa đang rơi lặng lẽ
Em bỗng buồn bã thì thầm vào tai tôi
“ Đây có lẽ là đợt tuyết cuối ở Tokyo rồi, anh nhỉ? “
Tuyết muộn cũng thật khéo chọn thời điểm rơi
Đúng vào lúc tiết trời thất thường kia qua đi
Mùa xuân năm nay tới, và em càng trở nên đẹp   hơn
Dường như đẹp hơn cả năm trước

Ghé mặt vào cửa sổ khi chuyến tàu bắt đầu chuyển bánh
Em đang định nói gì đó
Nhưng tôi lại cúi đầu, vì sợ phải nghe lời tạm biệt từ đôi môi của em
Thời gian dần trôi, đến lúc này tôi mới nhận ra
Cô bé thuở nào giờ đã lớn
Mùa xuân năm nay tới, và em càng trở nên đẹp hơn
Dường như đẹp hơn cả năm trước

Chỉ còn tôi ở lại nơi sân ga em đã xa rời
Nhìn những bông tuyết rơi xuống và tan thành nước
Mùa xuân năm nay tới, và em càng trở nên đẹp hơn
Dường như đẹp hơn cả năm trước